Đối thoại với cối xay lúa

Đối thoại

 

với cối xay lúa

 

Tôi gọi cái thứ vớ vẩn này là truyện ngắn đấy. Còn anh gọi gì kệ anh. Chúng ta mỗi người đều có tự do của mình. Một nhà hiền triết từng bảo: “Hãy băm vụn những lôgic của anh ra, may ra ta còn dùng được vài mẩu. Chứ để nguyên cả như thế thì ta không ngửi nổi“. Con đường đi tới chân lý vốn không phải hướng lên phía trước, mà chính là sự trở về điểm xuất phát. Quá trình nhận thức của con người thực chất là một chuỗi những sai lầm, ngộ nhận. Đến một lúc nào đó, người ta bỗng giật mình nhận ra rằng mình đang đi lạc quá xa. Chân lý té ra không nằm ở phía trước, mà nằm phía sau lưng. Xóa sạch những ngộ nhận (cũng tức là xóa sạch tri thức) là con đường ngắn nhất đi tới chân lý (đốn ngộ) song cực khó, thậm chí đối với tuyệt đại bộ phận nhân loại, điều đó là không tưởng. Khôn ngoan nhất trong trường hợp này chỉ còn cách phải bước những bước giật lùi. Song thay vì làm như thế, con người thường làm động tác quay trở lại. Thế là những dấu chân có vẻ như vẫn tiến lên phía trước. Nhân loại từng chứng kiến một số bước giật lùi vĩ đại. Cơ học lượng tử là một ví dụ, hay lãng mạn hơn chính là thuyết tương đối. Tuy nhiên đó chỉ là những “tiệm cận“, chưa phải những mô tả cuối cùng về thế giới thực.

Anh vừa nói gì về chủ nghĩa “hậu hiện đại“? Anh thích nó ư? Lý do? Chắc không phải do nó là một “mốt“ thời thượng đấy chứ? Nếu anh bảo nó là một sự tiến lên phía trước, thì chắc chắn anh thích nó chẳng qua chỉ vì muốn tỏ ra mình là một kẻ cách tân, có cố lắm thì cũng chỉ trở thành một gã “ăn theo“ mà thôi. Phật Tổ bảo: “Mi có thể ra khỏi luân hồi, thậm chí ra khỏi ngũ hành. Song ta đố mi ra khỏi vũ trụ này… “ Lại bảo: “Kẻ ngu ngốc nhất chính là kẻ suốt đời không cảm thấy có điều gì sụp đổ trong lòng“. Vậy, “hậu hiện đại“ dẫu có là một cuộc sụp đổ, sụp đổ tan tành những hệ thống quy luật nào đấy, thì mục đích của nó cũng không phải để làm “mới“, làm “lạ“… Càng không phải để đánh đố. Mục đích của “hậu hiện đại“ chính là đạt tới… hiện thực. Tuy nhiên khái niệm “hiện thực“ ở đây là: càng tiệm cận tới “chân hiện thực“ (Phật Tổ bảo: “bổn lai diện mục“) càng tốt.

Đối với nó, tất cả những gì gọi là “hiện thực“ trước đây thực chất đều giả tạo. “Hậu hiện đại“ chính là một thứ… chủ nghĩa hiện thực, trong đó cái gọi là “chủ nghĩa hiện thực“ truyền thống được xem là (hoặc đã biến thành) “hiện thực giả dối“. Nếu tôi là hậu hiện đại, tôi sẽ gỡ cái bảng “hiện thực“ vẫn hằng treo ở trước mắt mọi người xuống, đồng thời gắn cái bảng cũng có tên là “hiện thực“ của mình lên. Tôi vẫn có thể sử dụng tất cả những khái niệm, ngôn ngữ, thậm chí cả những mảnh vụn qui luật… trước đây làm công cụ thể hiện, song cũng có thể vứt hết đi mà sử dụng những công cụ hoàn toàn khác. Tuy nhiên, để xem xét một tác phẩm hậu hiện đại, nếu có đủ trình độ, tôi sẽ xem mức độ “bổn lai diện mục“ của nó đến đâu để đánh giá nó có phải là một bước giật lùi vĩ đại hay không.

Anh thắc mắc về nhân vật này của tôi ư? Đó là một bậc đức cao vọng trọng mà kiến thức có thể làm “tâm phục khẩu phục“ hầu hết mọi người. Con người đó tỏa ra một sức thuyết phục mãnh liệt, tựa như lúc nào cũng có một vầng hào quang chói lọi bọc xung quanh. Tôi khẳng định như thế đấy. Song nhân vật ấy hôm qua mới đè ngửa một cô gái vị thành niên ra cưỡng hiếp. Nhân vật ấy vừa đọc xong một bài diễn văn trên ti vi liền chửi: “Mả cha chúng mày“! Nhân vật ấy có một cái thú là rất thích (và chỉ) ỉa vào những cái nồi dùng để nấu cơm. Tất cả những chỗ như gốc cây, chuồng xí, bồn cầu… mà cả nhân loại này đều có thể rặn ỉa được thì nhà đạo đức ấy không tài nào sử dụng được. Ông ta chỉ có thể ỉa vào những cái nồi nấu cơm mà thôi. Chậc! Thì giời sinh ra như thế, biết làm thế nào. Vậy mà nhà nào cũng muốn có một cái nồi mà ông ta đã từng ỉa vào đó. Kết quả là người ta cứ xếp hàng lũ lượt, tranh nhau mang nồi đến cho ông ta ỉa.

Anh bảo làm gì có chuyện đó phải không? Thế anh tưởng chuyện đạo đức thì có thật hay sao? Tại sao anh có thể tin vào một thuật ngữ hết sức viển vông, giả dối là: “đạo đức“, trong khi lại không tin vào câu chuyện ấy? Không biết hết được những cái giời đã sinh ra, thì đừng có dại mà nghi ngờ vào bất cứ điều gì. Hãy về ngửi kĩ lại cái nồi nấu cơm nhà anh xem? Không ông ta thì cũng có người đã từng ỉa vào rồi đó. Dấu vết của bãi cứt vẫn còn rành rành ra đấy. Còn tôi, tôi không những tin rằng điều đó ít nhất cũng gần với hiện thực nhất, tính cho đến thời điểm này, mà tôi còn đang thống kê số lượng những cái nồi đã được nhà đạo đức ấy ỉa trong suốt cuộc đời mình để đánh giá mức độ vĩ đại của ông ta đây. Nếu số lượng nồi ấy chỉ tương đương trong phạm vi một xã, một huyện, thậm chí một tỉnh thì cũng bình thường thôi, khối người đã làm được như vậy. Phải đạt tới số lượng nồi của cả một nước thì mới có thể (bắt đầu) được xem xét là có vĩ đại hay không. Tất nhiên nếu để lại được dấu vết bãi cứt của mình vào nồi cơm của nhiều nước, thì không những lập tức được coi là vĩ đại, mà còn phải xếp vào hạng thiên tài. Cứ thế mà suy ra, thì có thể dễ dàng chứng minh một mệnh đề hết sức “văn vẻ“, rằng tất cả mọi nồi cơm trên thế gian này ít nhiều đều có dấu vết của… thiên tài.

Anh bảo những “nhân vật“ kia của tôi là vô lý ư? Hãy xem lại kiến thức của mình đi, hình như nó giẫm chân tại chỗ khá lâu rồi thì phải. Cũng chẳng trách anh được, tình trạng chung mà. Ôi! Những con chó mới xấu xí làm sao. Đồng ý là không quan trọng gì cái việc đi bằng hai chân hay bốn chân. Song nếu chỉ xét riêng về độ xinh xắn của gương mặt, thì so với con người, lũ chó kia chỉ đáng là những tác phẩm hạng bét của Tạo hóa. Vì vậy, từ chỗ quan niệm rằng nuôi chó chỉ để dọn cứt và giữ nhà, đến chỗ nuôi chó còn để làm cảnh nữa là cả một bước tiến dài về nhận thức của dân ta đấy. Cách đây vài trăm năm, ví dụ vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh chẳng hạn, mà bảo rằng nuôi chó để làm cảnh thì chắc chẳng ai tin. Tôi bây giờ thậm chí còn tin rằng người ta nuôi chó để đớp muỗi nữa cơ đấy. Không phải tôi cầm đèn chạy trước ô tô đâu. Tại những con chó đang đớp muỗi kia đấy chứ?

Anh xem, chúng mới sặc sỡ làm sao, đông đảo làm sao, con nào con nấy to lớn làm sao. Một lũ chó thật hùng hậu và đa dạng. Anh bảo chúng đang tranh luận học thuật à? Hay là chúng đang trao đổi về phê bình văn học? Cẩn thận kẻo chúng vu cho tôi với anh là phần tử khủng bố đấy. Có thể như thế lắm, bởi giời có thể sinh ra mọi chuyện. Nom chúng hung hăng và sôi nổi đến thế kia mà. Nhưng chúng đồng thời cũng rất cảnh giác khi xuất hiện người lạ (chó mà). Tai mũi họng (đại khái cũng gọi là các giác quan) của chúng rõ ràng không con nào giống con nào, song chúng rất thống nhất với nhau trong cách nhận định. Có người lạ thì chúng châu mõm vào sủa, có người lạ thì chúng hoan hỉ vẫy đuôi. Tất nhiên điều đó không có nghĩa là chúng tỏ ra có cùng một quan điểm. Cứ thử quẳng một khúc xương vào giữa chúng mà xem.

Thế còn cái chuyện đớp muỗi? Thì anh nhìn kĩ đi. Chẳng phải chúng đang say sưa đớp muỗi là gì. Cái này cũng gọi là một thứ… chủ nghĩa gì gì đấy. Ngoài việc đó ra, những con chó ấy làm được cái gì cho tôi, cho anh? Cho ông hàng xóm bên trái, cho bà hàng xóm bên phải… của tôi nhỉ? Anh không tin là chúng đang đớp muỗi ư? Thế mà hôm qua, chính tôi cũng bị chúng đớp cho đấy. Chúng đớp gọn bãi nước bọt của tôi, mặc dù tôi đâu dám so sánh mình với những con muỗi. Đấy! Điều đó hiện thực như chính tôi đang nói chuyện với anh đây vậy. Chúng thù tôi đã giễu cợt cái công việc vẻ vang ấy của chúng. Nếu chúng quả thật không phải đang đớp muỗi, thì việc gì chúng phải động lòng?

Anh không tin vào đoạn viết về người kéo chuông trong truyện của tôi ư? Thế gian này mỗi ngày lại vang lên bao nhiêu tiếng chuông nhà thờ nhỉ? Câu chuyện chỉ kể về một trong vô vàn những tiếng chuông ấy mà thôi. Một hôm, người kéo chuông nhà thờ Đức Bà Paris dậy muộn mất 15 phút. Theo phản xạ, kẻ con chiên ngoan đạo ấy vội vàng chạy lên gác chuông. Song đúng vào lúc ông ta vừa mới níu lấy dây chuông, đang định kéo thì Chúa bỗng xuất hiện. Chúa ra hiệu cho ông ta không được kéo nữa. Người kéo chuông hoảng sợ quỳ xuống nói: “Mong Chúa nhân từ rủ lòng thương tha tội cho con. Từ nay con nguyện sẽ ăn năn sám hối. Đúng là tối hôm qua con trót uống rượu say. Song bổn phận của con là phải kéo chuông. Cớ sao Chúa không muốn cho con kéo nữa?“. Chúa trả lời: “Dù hôm nay con không kéo thì tiếng chuông vẫn vang lên trong tâm thức của mọi người vào đúng cái thời khắc đó rồi. Bây giờ nếu con kéo, thì sẽ làm đảo lộn cả Paris lên mất. Điều đó sẽ gây hậu quả không biết đâu mà lường được. Vậy thà không kéo nữa, còn hơn kéo không đúng giờ“. Chúa đã nói, hẳn không bao giờ sai. Người kéo chuông nghe lời, bèn thả dây chuông ra và đi xuống. Dọc đường, ông ta gặp đức Giám mục. Đức Giám mục bảo: “Hôm nay bỗng dưng ta nghe thấy tiếng chuông ngân vang hơn mọi hôm“ (!) Thấy chưa? Anh không cần phải tìm hiểu câu chuyện đó là có thật, hay do tôi bịa ra. Điều đó không hề quan trọng. Chỉ biết rằng hàng nghìn năm nay, con người đã từng làm thay đổi rất nhiều thứ. Song chưa có ai dám xê dịch những giờ khắc kéo chuông nhà thờ.

Anh cũng không tin vào nhân vật “tạp sĩ“ của tôi ư? Đó là một nghệ sĩ đa phương diện đấy. Đại khái gã cũng biết hát. Nhưng gã hát như bò rống và rống như chim sơn ca. Gã nhắm tịt mắt khi nhìn và mở to mắt khi ngủ. Gã sinh ra tại đền Ăng-co Vát, cắt rốn giữa rừng già Ấn Độ và lớn lên bên cạnh những kim tự tháp ở Ai Cập. Gã uống nước sông Nil và nhai một thứ lá cây hái trong rừng Amazon bên Nam Mĩ. Gã nói tiếng người nhưng lại viết một thứ chữ tượng hình nom rất kì quái. Gã từng lang thang khắp nơi, cuối cùng trở về sống ở đây, ngay giữa tôi và anh. Hôm kia, tôi bắt gặp gã nhai một con chuột chết moi lên từ một đống rác. Tôi trợn mắt, nôn oẹ ầm ĩ và nghĩ rằng thể nào gã cũng lên cơn tháo ruột mà chết. Vậy mà vừa mới đây thôi, tôi lại bắt gặp gã tiếp tục nhai một con vật khác, lần này là một con cóc thối vớt từ dưới cống lên. Nhà nghệ sĩ ấy té ra không thể nhai được những thức thơm tho. Thì cũng hệt như tôi và anh không nuốt được những món gọi là thối tha vậy. Ngoài những thứ ghê tởm ấy ra, gã chỉ có thể nhai được con người nữa mà thôi. Chuyện đó tí nữa sẽ kể.

Anh không tin rằng trên đời lại có thể tồn tại một kẻ như vậy ư? Thế anh tưởng rằng nhà nghệ sĩ ấy sẽ tin vào sự tồn tại của anh chăng? Lúc nào gã cũng mang một bộ mặt ngạc nhiên. Gã ngạc nhiên vì chính những thức gọi là thơm tho của tôi, của anh, của tất cả mọi người đấy. Tôi biết gã sống trong một gầm cầu phía tây thành phố. Ở giữa sông có gắn một cái ti-vi công cộng màn hình cực lớn. Nước sông đen ngòm ngày hai lần chảy qua chảy lại bên dưới cái màn hình, mang theo rác rưởi cùng những con vật chết. Một bữa xem ti-vi, tôi thấy gã lộn ngược đầu xuống đất, chổng mông lên trời như trẻ con chơi trò trồng cây chuối vậy. Tôi thắc mắc thì gã trỏ tay vào màn hình mà không nói câu nào. Chẳng lẽ gã chỉ đơn giản muốn nhìn ngược lại những gì đang diễn ra trên màn hình ti-vi hay sao?

Nhà nghệ sĩ ấy có một cặp tai rất đặc biệt. Nó không gắn cố định ở hai bên thái dương như tôi và anh, mà có thể di chuyển trên khắp cơ thể. Có khi gã gắn nó vào trước ngực, chỗ trái tim, có khi gắn ở sau lưng, có khi gắn chỗ dạ dày… Một hôm gã mò tới một cuộc mít-tinh lớn. Gã thích nghe đọc diễn văn chăng? Tôi để ý không thấy cặp tai của gã gắn ở đâu cả. Chẳng lẽ gã không thèm nghe. Vậy gã đến đây làm gì? Mãi đến khi bài diễn văn kết thúc, mọi người vỗ tay vang dội, tôi mới phát hiện thấy gã lôi cặp tai của mình ra. Gã nháy mắt với tôi, nhéo vào tai tôi rồi trỏ vào mọi người mà thốt lên: “Bi kịch! bi kịch!…“. Tất nhiên, lúc ấy tôi chẳng hiểu gã nói thế là có ý gì. Chỉ biết rằng trong suốt bài diễn văn vừa rồi, gã đã gắn cặp tai của mình ở đâu đó quanh vùng hậu môn. Nhà nghệ sĩ đa phương diện ấy té ra còn có một biệt tài ảo thuật kinh người. Gã thốt ra mấy từ ấy xong liền gắn cặp tai trở lại hai bên thái dương rồi chạy lên diễn đàn. Vừa tới nơi, gã nhanh nhẹn giơ hai tay ra, chộp ngay lấy cái vị vừa đọc diễn văn kia bỏ vào mồm nhai ngấu nghiến. Gã nhai rau ráu, nom cũng ngon lành y như nhai con chuột chết hay con cóc thối ngày trước vậy. Đám đông rú lên kinh sợ. Tưởng gã là yêu tinh. Té ra gã chỉ đùa, gã thực ra đang biểu diễn một trò ảo thuật. Không có án mạng, cũng chẳng có yêu tinh yêu tiếc gì ráo. Kẻ bị nhai kia vừa chui hết vào mồm gã, thì lập tức lại được tòi ra phía hậu môn theo đúng thứ tự. Trước tiên là cái đầu rồi đến hai chi trước ra trước, hai chi sau ra sau… nguyên lành, không hề trầy xước mảy may. Đám đông đồng loạt vỗ tay tán thưởng, mặc dù tiết mục mang tên “bi kịch“ ấy (có phải thế không nhỉ?) hình như không có trong chương trình.

Tôi biết anh vẫn bảo không tin vào những nhân vật của tôi. Mặc dù Phật Tổ sẽ không nói như vậy. Ở đây có một tam đoạn luận không mấy hoàn chỉnh. Anh rất tin Phật Tổ. Phật Tổ lại tin tôi. Song điều đó không có nghĩa là anh cũng tin tôi. Nghĩ cũng đúng thôi. Nếu tin tôi, anh đã là Phật Tổ. Tôi nhớ có một nhà hiền triết khác từng đưa ra một công thức tổng quát như sau: “sự thật“ = “sự thật“ + “dối trá“. Công thức này chính là học mót từ Phật Tổ. Phật Tổ bảo kể từ khi con người biết suy nghĩ, thì “dối trá“ luôn luôn có giá trị lớn hơn không. Chẳng những thế, “dối trá“ còn tỉ lệ thuận với tốc độ tiến hóa của nền văn minh. Trong khi “sự thật“ thì ngược lại. Tại sao anh không chấp nhận điều đó nhỉ? Trong khi anh lại rất dễ tin vào những trang giáo khoa lịch sử, hoặc tệ hơn, tin vào những cuốn hồi kí? Công thức tổng quát trên chính là đã được rút ra từ những thứ đó đấy.

Nhà sử học trứ danh nước Thổ tên là Mít-đui một hôm tông xe vào gốc cây mù-u. Ngài bị một cành mù-u chọc lòi mắt ra, nom rất kinh. Có kẻ qua đường thấy vậy bảo: “Ghen tuông mà đến thế là cùng“. Nếu hoàng đế Võ Tắc Thiên bên Trung Hoa viết hồi kí, liệu bà ta có viết rằng mình chẳng qua chỉ là một hạng đĩ thập thành hay không? Trong sổ tay của hai vị Nam Tào, Bắc Đẩu đều có ghi một mệnh lệnh của Thượng Đế: “Tất cả mọi linh hồn đều có thể đầu thai. Trừ linh hồn của những kẻ làm nghề chép sử“. Không hiểu sao lại có cái qui định bất công như thế. Chỉ biết rằng các nhà sử học khi chết đi, ai cũng đều mang theo không ít những sự thật xuống mồ. Chẳng lẽ nếu để họ đầu thai thì rất dễ sinh loạn ư? Nghĩa là đến cả Thượng Đế xem ra cũng chẳng ưa gì sự thật.

Tuy nhiên, qui định ấy thỉnh thoảng vẫn bị vi phạm. Đó là câu chuyện mà tôi sẽ kể sau đây. Một hôm, con chim cú chuyên săn chuột sau vườn nhà tôi bỗng ra rả ca ngợi tôi là một bậc anh hùng. Nó bảo đêm đêm, nó chứng kiến rất nhiều hành động anh hùng của tôi. Tôi xưa nay vốn chỉ lo lắng về những việc mình làm trong bóng đêm mà thôi. Nay nghe con cú nói thế thì không những yên tâm, lại còn lấy làm sướng tai lắm. Bèn cứ lời nó chép lại. Xong ngay một cuốn hồi kí không chê vào đâu được. Tuyệt thật. Sao lại có con cú xuất chúng đến thế kia chứ? Tôi ngắm mãi cái khuôn mặt đeo kính trắng trầm tĩnh của nó. Tôi lần giở gia phả của nó và chợt phát hiện. Thì ra mới ngay kiếp trước đây thôi, con cú ấy vốn là một nhà sử học.

Hậu hiện đại là một món nguy hiểm như thế đó. Một khi nhân loại còn dùng đến những nồi nấu cơm thì nó còn nguy hiểm. Nếu không thì Chúa đã chẳng ngăn người kéo chuông lại. Và Thượng Đế đã không phải ban ra cái mệnh lệnh kia… Anh là người luôn quay tròn theo một chiều đúng không? Gả sử có kẻ quay ngược lại, chắc chắn anh sẽ lồng lên như một gã khùng. Và những hạt thóc thay vì chảy xuống nia, lại dồn ngược vào giữa trục. Anh chỉ có thể ngốn ngấu những hạt thóc theo một chiều nhất định, rồi cho ra gạo và trấu. Chấm hết! Và anh gọi đó là văn chương phải không? Nhân loại đã nhá cái văn chương ấy của anh cả ngàn năm nay rồi. Và sẽ còn tiếp tục nhá hàng ngàn năm nữa? Ờ! Mà tại sao anh không nói gì nhỉ? Mặc dù nhìn anh, tôi vẫn như nghe thấy tiếng ù ù ngày nào. Hai tai anh vẫn giương ra hết cỡ, anh vẫn đang nghe đấy chứ? Thế còn cái gì thế này? A! Mạng nhện! Đúng rồi. Mạng nhện!

11/2006

Phạm Lưu Vũ

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: