Ế ẩm Bồ Tát

Ế ẩm Bồ Tát

 

Xin được bắt đầu bằng một cuộc tình độc nhất vô nhị. Một cuộc tình mà loài người thông thái và văn minh không thể nào bắt chước. Cuộc tình của một nàng ong chúa với đàn ong đực. Nàng ong chúa trinh nguyên vừa mới đến lúc trưởng thành ấy bay lên cao, lên cao… Lũ ong đực bám theo cứ tuột dần, tuột dần… Vì đuối sức? vì bất tài? Hay là vì… Giời bắt phải như thế?. Cuối cùng còn đúng một chàng đủ bền bỉ theo kịp. Và cuộc tình bắt đầu diễn ra giữa không trung bao la. Chàng đực kia trút cả cuộc đời mình sang cô bạn tình đỏng đảnh và ghê gớm để rồi ngay sau đó biến thành một xác chết, rơi xuống mặt đất như một mẩu lá rụng. Chàng bị đứt ruột chết? Ai mà biết được. Nhưng cái thứ tình yêu đến đứt ruột mà chết tươi như thế thì không phải chỉ có ở loài ong. Chính loài người xưa nay cũng có đấy, các nhà y học đã biết tỏng từ lâu, thậm chí còn đặt cho nó một cái tên nghe sặc mùi… chinh chiến, gọi là “thượng mã phong” gì đó. Điều may mắn là hiếm hoi lắm mới xảy ra một “vụ” bi thảm như thế. Còn ngoài ra thì chỉ có ở cửa miệng hoặc cùng lắm là có ở… trong thơ nữa mà thôi.

Giống đực trong thế giới côn trùng là một trò đùa quái đản của Tạo hoá, đồng thời cũng là một sự sỉ nhục đối với cái giống đực đã tiến hoá tới… đàn ông. Bởi vì ngoài tác dụng truyền giống ra, tất cả những chàng đực ấy không được một tích sự gì sất, chỉ biết mỗi ăn hại… đái nát mà thôi. Chàng ong đực kia còn có cái may mắn là được toàn thây mà trở về đất mẹ. Chứ ở một số loại côn trùng khác (như nhện, bọ ngựa… chẳng hạn), thì sau cuộc mây mưa, các chàng còn bị chính cô bạn tình… xơi tái cho đỡ phí của giời.

Xin thôi không nói chuyện côn trùng nữa, mà nói về chuyện con người. Chuyện sau đây do một bà lão quét lá trước cổng chùa kể cho người viết nghe cách đây đã lâu. Nguyên trước kia, bà có sinh một đứa con trai kháu khỉnh. Hồi đó, ông cậu của bà vốn giỏi lí số, một hôm xem tử vi cho nó xong thì thở dài mà bảo: “thằng bé này tướng mạo không đến nỗi, mà phải cái yểu số. Thật tiếc thay! Tiếc thay!”. Bà nghe mà rụng rời tay chân, bèn gặng hỏi mãi, ông cụ không đành được mới nói:“cái số nó sợ không làm đàn ông thì thôi, chứ nếu làm thì chỉ được đúng một lần là hết mệnh…”. Bà cũng biết phong thanh cái chứng bệnh ấy ở con người ta, không ngờ lại rơi đúng vào con mình. Bèn nuôi nó đến năm mười tuổi thì đem đến một ngôi chùa, xin cho nó vào làm chú tiểu để sau này tu hành, còn bà thì dựng một ngôi quán nhỏ ở ngay trước cổng chùa, hàng ngày ngồi bán nước chè tươi và chăm chỉ quét lá xung quanh chùa.

Vị sư trụ trì chùa ấy là một lão sư cụ tuổi ngoại bẩy mươi, lúc đầu nghe bà trình bày ý nguyện gửi con vào chùa, sư cụ ngắm đứa trẻ một lúc lâu, không nói câu gì, chỉ hơi khẽ lắc đầu có vẻ không muốn thu nạp. Bà hoảng sợ quỳ sụp xuống van xin. Vị sư cụ vội đỡ bà lên rồi từ tốn nói: “Nam mô A Di Đà Phật, chí đạo vô nan… (đạo cùng chẳng khó), đến lúc rồi chăng? thiện tai! thiện tai! Bản tự biết đâu không phải là chốn nương thân lâu dài cho con trai nữ thí chủ”. Bà nghe câu ấy, nhất thời chưa hiểu sư cụ nói thế là có ý nghĩa gì. Nhưng cứ một hai xin sư cụ mở lòng từ bi. Vị sư không thể từ chối, đành chép miệng nói: “Nam mô A Di Đà Phật. âu cũng là cái nhân duyên tiền định…”, rồi bằng lòng thu nhận thằng bé.

Ở được vài năm, một hôm, ông cậu ngày trước của bà tìm đến định khuyên nhủ hai mẹ con bà điều gì đó. Đến nơi, ông cụ ngắm nhìn ngôi chùa một lát, cảm thấy có điềm lạ, bèn giở tay bấm độn. Bấm xong, cụ giật mình lẩm bẩm: “Quái lạ, chùa vằng vặc thế kia mà sắp đến ngày tận số thì là nghĩa lý gì. Chẳng hay sư cụ đã khai tâm chưa?”. Nói xong, ông cụ lập tức gõ cửa chùa xin vào yết kiến sư trụ trì. Vị sư cụ ra đón vào, hai cụ vái chào nhau rồi cứ thế nhìn nhau một lúc lâu, chẳng ai nói với ai câu nào. Mãi sau, ông cậu mới thở dài một tiếng mà bảo: “Thì ra sư cụ khai tâm đã lâu. Kẻ tục này không cần phải nói ra nữa, xin được phép cáo từ.” Lúc đi qua ngôi quán của bà, ông cụ có ghé vào uống một cốc chè tươi rồi lặng lẽ ra về. Chẳng hiểu sao ông cụ lại thay đổi ý định, tuyệt đối không khuyên bảo hay dặn dò mẹ con bà một câu nào.

Năm con trai bà vừa tròn mười sáu tuổi thì sư cụ làm lễ xuống tóc cho nó. Bà đã mừng rằng từ nay, thế là nó yên ổn ở chốn tu hành. Có biết đâu cái mệnh trời kia là không cách gì thoát được. Bấy giờ đang có chiến tranh, trai tráng trong làng ra mặt trận hết, tháng nào cũng có vài cái giấy báo tử gửi về. Chú tiểu con bà đâm ra lại trở thành một thanh niên tuấn tú, hiếm hoi, làm cho nhiều cô gái trong làng phải lòng. Trong số đó có một cô nhà ở gần chùa thì chết mê chết mệt, ngày nào cũng tìm cớ lân la cắt cỏ quanh chùa để rình cơ hội ngắm nghía chú tiểu. Bà lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Phải giữ gìn sự trong sạch của con trai bằng mọi giá, bởi đó chính là mạng sống của nó. Một hôm, bà gọi cô gái ấy vào quán, nói thẳng cho cô ta biết cái sự không thể làm được đàn ông của con trai mình. Cô gái nghe xong, đỏ mặt chạy ù về nhà. Rồi từ đó không còn thấy cô lai vãng đến gần chùa nữa.

Mọi chuyện tưởng như thế là êm xuôi. Bất ngờ vào một buổi trưa, bà bỗng thấy dân làng xúm đen xúm đỏ trên chiếc cầu đá Năm gian bắc qua con sông nhỏ gần chùa. Người ta chạy huỳnh huỵch trong các ngõ xóm, chạy hớt hải từ các cánh đồng về, vừa chạy vừa kêu có người chết đuối dưới sông. Người đó chính là cô gái ấy, không phải cô chết đuối, mà đã nhảy từ trên cầu xuống sông tự vẫn, có người đã nhìn thấy như thế.

Hầu như cả làng lao xuống sông lặn mò. Người ta mò suốt từ trưa đến chiều, quần nát cả một khúc sông, mà tuyệt nhiên không tìm thấy xác cô gái. Từ lúc biết cô tự vẫn, bà bủn rủn cả người. Dân làng không ai biết, nhưng bà biết, việc đau lòng này có lỗi của bà, có lỗi của đứa con trai không thể làm đàn ông kia. Tội nghiệp cho cô gái, đàn ông trong làng đi đánh nhau hết, dẫu có ở trong chùa đi nữa, thì chú tiểu ấy đối với cô, vẫn là niềm hy vọng cuối cùng còn sót lại… Song thật trớ trêu, thật trùng với thời cuộc, cái niềm hy vọng ấy lại không thể làm được đàn ông…

Ba ngày sau thì xác cô gái tự nổi lên. Nhưng lần này lại là tin sét đánh. Không phải một, mà là hai. Hai cái xác chết trôi một nam, một nữ quấn chặt lấy nhau. Cái xác nam chính là chú tiểu ấy – đứa con trai duy nhất của bà. Nó mất tích đã mấy ngày mà lạ sao không ai để ý. Chúng nổi lên ngay dưới chân cầu, nơi dân làng mấy hôm trước đã mò đi mò lại mà không hề thấy… Bà đau đớn đến chết đi sống lại. Cái mệnh trời, thế là không sao thoát được. Khi tắm rửa thi thể cho chú tiểu để khâm liệm, người ta phát hiện nơi hạ bộ của nó, một đám lầy nhầy như thể tinh khí phát tiết ra…

Bà lão kể đến đó thì đưa giải yếm lên khẽ lau nước mắt. Bà bảo biết thế, trước đó bà đã cho nó đi theo ông già ấy. Số là trước khi xảy ra sự kiện bi thảm ấy, ở cổng chợ Huyện bỗng xuất hiện một ông già râu tóc bạc trắng, mặc bộ quần áo đen. Ông ngồi bó gối trước một cái mẹt, trên đó bày bán toàn những đồ vứt đi. Chỉ thấy nào là mấy mảnh sành, mảnh vại, mấy quyển sách quăn queo rách nát, mấy cục đất như vừa mới lượm dưới ruộng lên… Nhưng có một điều vừa lạ, vừa đơn giản nhưng do không để ý nên ai không biết. Đó là nếu chỉ nhìn vào cái mẹt, thì sẽ không thấy những vật ấy đâu, còn nếu chỉ để ý những vật ấy thì lại không thấy cái mẹt. Dù thế nào thì những người đi chợ cũng không quan tâm. Người ta kháo nhau rằng ông lão có nhẽ điên. Suốt mấy tháng trời ngồi như thế, ruồi bâu không buồn đuổi, ông lão không bán được bất cứ thứ gì. Mọi người bắt đầu gọi lão là ông già ế ẩm.

Thế rồi một hôm, ông già ế ẩm ấy bỗng đứng dậy. Ông bê cái mẹt của mình xuống thẳng dưới bến nước, lặng lẽ trút sạch mọi thứ trong đó xuống dòng sông rồi lững thững bỏ đi. Ông đi đâu? ông đi về phía ngôi chùa. Nhưng ông lão không vào chùa mà ngồi lại nơi quán nước của bà. Uống xong một cốc nước chè, ông hỏi: “Chú tiểu trong chùa phải con trai bà không? Bà trả lời: “phải” thì ông bảo: “Chẳng hay bà có thể cho nó theo tôi được chăng?”. Bà tưởng ông lão hỏi đùa, mà ông có hỏi thật đi nữa thì cũng chẳng đời nào bà để cho nó đi theo. Ông già ế ẩm ấy hỏi xong, cũng không cần bà trả lời mà đứng dậy bỏ đi, vừa đi vừa nói một câu bâng quơ: “Đến rồi, đến rồi. Thế mới gọi là tu đâu “tự” đấy, tu đâu nạn đấy, ha! ha!…”

Câu nói bí hiểm của ông già làm cho bà băn khoăn, khó chịu mất mấy hôm. Một lần nhân gặp sư cụ, bà đem chuyện ấy ra kể thì vị sư già bỗng hơi ngẩn ra một lúc rồi nói, cũng bằng một câu không kém phần bí hiểm: “Đạo đã đến cái thời ế ẩm rồi chăng? Mà đó không phải là ông già nào đâu. Một vị Bồ Tát đấy”..

Cho đến khi xảy ra mọi việc thì bà mới lờ mờ hiểu những câu nói đó. Thế rồi bỗng có lệnh phá chùa. Người ta cần trưng dụng diện tích ngôi chùa vào việc công. Các pho tượng Phật được bê ném xuống sông, những cột gỗ lim, rồi đòn tay, rui mè… được dỡ ra, chia nhau mang về làm chuồng trâu chuồng bò. Cả những tấm bia đá lớn, những trụ đá, những con rùa đá… cũng được khuân về làm bậc cầu ao, hay làm tấm chặn chuồng lợn… Chỉ còn lại mấy gian nhà ngang được dùng làm kho chứa phân hoá học. Người ta còn đào cả móng lên để lấy gạch. Hôm đào đến đúng cái nền hậu cung trước, bỗng phát hiện ra một tấm bia đá nhỏ được chôn từ cái hồi dựng chùa. Tấm bia ấy viết toàn chữ cổ, chẳng ai biết đọc thành ra cứ nay chỗ này, mai chỗ khác như một mảnh đá lát đường.

Mãi tới gần đây, có người tình cờ đọc được những chữ khắc trên tấm bia ấy. Nội dung ghi công đức của người dựng chùa. Thì ra ngôi chùa được lập nên từ đầu thế kỉ trước, vào năm… Vị sư đầu tiên và cũng là người dựng lên ngôi chùa có tên là: “…”. Vốn là một người nổi tiếng phong tình, đã từng trải qua không biết bao nhiêu đàn bà con gái khắp thiên hạ. Thế rồi một hôm, không hiểu sao vị đó bỗng chán tất cả mà xuống tóc đi tu, lập nên ngôi chùa này rồi tu đến mãn kiếp ở đây. Nhưng điều làm mọi người kinh ngạc nhất là trên tấm bia đó, còn khắc rõ ràng cả họ tên người sẽ tu hành cuối cùng của ngôi chùa. Chính là họ tên của chú tiểu chết trôi – con trai bà lão ấy.

Đúng là trên đời không điều gì là không thể xảy ra. Ngôi chùa bây giờ chỉ còn là gò đống. Nhưng dù sao nó cũng đã đi trọn một vòng thời cuộc. Cái thời cuộc oái oăm mà người lập ra là một vị chán làm đàn ông, kẻ kết thúc lại là một người không được phép làm đàn ông. Có điều số phận của vị sư cụ kia về sau ra sao thì không ai biết. Lúc phá chùa, vì quá hăng hái mà mọi người không ai để ý. Sư cụ đã đi đâu? Cả cái vị Ế ẩm Bồ Tát kia nữa. Dân làng đang muốn gào lên rằng bây giờ, hồn vía của các vị ở đâu?

2005

Phạm Lưu Vũ


Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: